Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs <p>Hanoi Open University - Journal of Science</p> vi-VN Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.3.0.8 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 MÀNG PHỦ ĂN ĐƯỢC CHITOSAN/GUM ARABIC BỔ SUNG CHIẾT XUẤT LÁ VỐI (Cleistocalyx operculatus) ĐỂ BẢO QUẢN TÁO TA (Ziziphus mauritiana Lam.) SAU THU HOẠCH https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1305 <p><em>Nghiên cứu phát triển màng phủ ăn được từ chitosan, gum arabic, glycerol và chiết xuất lá vối (Cleistocalyx operculatus) để bảo quản táo ta (Ziziphus mauritiana Lam.) ở điều kiện thường. Giai đoạn 1 cố định chitosan (CH) 1% (w/v) và khảo sát gum arabic (GA) 1-5% (w/v) nhằm chọn nền màng phủ phù hợp; giai đoạn 2 bổ sung dịch chiết lá vối 0,2-1,0% vào nền đã chọn. Hiệu quả được đánh giá qua ∆E, hao hụt khối lượng, chất rắn hòa tan tổng số (TSS), đường khử và axit tổng số (TA). Kết quả cho thấy CH 1%/GA 2% là công thức nền tốt nhất. Sau 9 ngày, công thức bổ sung 0,6% CE giảm ∆E từ 26,49 xuống 16,62, giảm hao hụt khối lượng từ 28,84% xuống 20,56%, giảm đường khử từ 7,683 xuống 5,901 mg/g và duy trì axit tổng số 0,089 mg/g so với 0,038 mg/g ở mẫu không CE. Kết quả cho thấy CH/GA/CE có tiềm năng bảo quản táo ta trong phạm vi điều kiện nghiên cứu.</em></p> Phan Thị Vân Anh, Nguyễn Đắc Bình Minh, Nguyễn Văn Lam, Vũ Văn Du, Đào Văn Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1305 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG BẢO QUẢN THỰC PHẨM CỦA MỘT SỐ DỊCH CHIẾT THỰC VẬT TẠI VIỆT NAM https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1306 <p><em>Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới với hệ thực vật phong phú, chứa nhiều hợp chất sinh học tự nhiên có hoạt tính kháng khuẩn cao, bền vững và thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch chiết từ một số thực vật phổ biến tại Việt Nam. Mười bốn loài thực vật ăn được được tách chiết bằng phương pháp hồi lưu và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch đối với các vi sinh vật gồm vi khuẩn gram dương, gram âm, nấm men và nấm mốc. Kết quả cho thấy các dịch chiết thực vật có khả năng ức chế vi khuẩn gram dương mạnh hơn so với vi khuẩn gram âm. Trong số các mẫu khảo sát, dịch chiết lá hương thảo (Rosmarinus officinalis) và húng chanh (Plectranthus amboinicus) thể hiện phổ kháng khuẩn rộng nhất. Thử nghiệm trên thạch rau câu cho thấy các mẫu bổ sung dịch chiết hương thảo và húng chanh không phát hiện vi sinh vật sau 15 ngày bảo quản ở nhiệt độ phòng, trong khi mẫu đối chứng bị hư hỏng sau 7 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy các dịch chiết thực vật có tiềm năng ứng dụng làm chất bảo quản tự nhiên thay thế phụ gia hóa học trong công nghiệp thực phẩm.</em></p> Đặng Thu Hương, Lộc Tú Anh, Đinh Huy Sơn, Nguyễn La Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1306 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG CỦA TIỀN XỬ LÝ HÓA HỌC VÀ NHIỆT ĐẾN KHỬ ĐẮNG VỎ CHANH DÂY TRONG SẢN XUẤT MỨT DẺO https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1307 <p><em>Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của tiền xử lý hóa học kết hợp chần đến hiệu quả giảm độ đắng, bảo toàn polyphenol tổng (TPC), cấu trúc và chất lượng cảm quan của vỏ chanh dây (Passiflora edulis) nhằm ứng dụng trong sản xuất mứt dẻo. Ba tác nhân tiền xử lý (NaCl, Na₂CO₃ và CaCl₂) được khảo sát kết hợp với quá trình chần ở 70-95°C. Kết quả cho thấy nghiệm thức Na₂CO₃ kết hợp gia nhiệt đạt mức giảm chỉ số đắng lớn nhất nhưng làm giảm đáng kể hàm lượng TPC và chất lượng cấu trúc. Ngược lại, xử lý bằng CaCl₂ 0,3% kết hợp chần ở 85°C trong 3 phút tạo sự cân bằng tối ưu giữa giảm vị đắng, duy trì hàm lượng TPC (19,4 ± 0,2 mg GAE/g), độ bền cấu trúc (15,35 ± 0,06 N) và chất lượng cảm quan (15,3/20 điểm). Kết quả cho thấy CaCl₂ kết hợp gia nhiệt là tiền xử lý phù hợp để tận dụng vỏ chanh dây trong sản xuất mứt dẻo giá trị gia tăng.</em></p> Bùi Thị Hồng Phương, Đỗ Thị Thủy Lê, Đặng Hồng Ánh, Nguyễn Thị Việt Anh, Vũ Xuân Tạo, Trịnh Thị Thu Hằng, Nguyễn Công Tú Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1307 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN TIỀN XỬ LÝ BẰNG PECTINASE ĐỐI VỚI DỊCH ÉP THANH LONG RUỘT ĐỎ PHỤC VỤ QUÁ TRÌNH CÔ ĐẶC BẰNG CÔNG NGHỆ MÀNG https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1308 <p><em>Nghiên cứu xác định điều kiện tiền xử lý enzyme cho dịch ép thanh long ruột đỏ trước lọc/cô đặc màng. Thí nghiệm gồm xác định chất lượng dịch quả nguyên liệu, chọn loại enzyme, khảo sát nồng độ pectinase và điều kiện nhiệt độ-thời gian. Dịch quả có TSS 14,00 ± 1,00 °Brix, pH 5,06 ± 0,12, acid tổng số 1,04 ± 0,06% cùng vitamin C, betacyanin, polyphenol và flavonoid. Pectinase 0,10% làm tăng hiệu suất thu hồi lên 58,67 ± 0,76%, cao hơn đối chứng 38,90 ± 2,33%, và phù hợp hơn tổ hợp pectinase-cellulase. Nồng độ 0,08% cho hiệu suất cao nhất 76,06 ± 0,26% nhưng độ nhớt, độ đục còn cao. Xét đồng thời hiệu suất, độ nhớt, độ đục, TSS và hợp chất sinh học, điều kiện pectinase 0,08% ở 35 °C trong 60 phút được lựa chọn để chuẩn bị dịch cho lọc/cô đặc màng.</em></p> Đặng Thảo Yến Linh, Nguyễn Văn Tuyến, Chu Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Diệp, Đoàn Hoàng Linh, Nguyễn Thị Mai Linh, Nguyễn Đức Dũng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1308 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH Ở VI KHUẨN PHÂN LẬP TỪ MỘT SỐ MẪU NEM CHUA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1309 <p><em>Nem chua là sản phẩm thịt lợn lên men tự nhiên truyền thống, tiêu thụ trực tiếp không qua gia nhiệt, có thể đóng vai trò là nguồn mang vi khuẩn kháng kháng sinh (KKS) trong chuỗi thực phẩm. Nghiên cứu này đánh giá tổng số vi khuẩn hiếu khí, tỉ lệ vi khuẩn KKS và kiểu hình đa kháng thuốc (Multidrug resistant - MDR) trong 14 mẫu nem chua thu thập tại Hà Nội trong tháng 1-4/2026. Tất cả 14 mẫu (100%) vượt giới hạn QCVN 8-3:2012/ BYT, tổng số vi khuẩn hiếu khí dao động từ 5,9×10⁵ đến 3,43×10⁶ CFU/g và tỉ lệ vi khuẩn KKS trung bình 11,5%. Mười chín chủng vi khuẩn KKS được phân lập và thử nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh bằng phương pháp Kirby-Bauer với 6 kháng sinh thuộc 5 nhóm cho tỉ lệ MDR 73,7% (14/19), và không phát hiện chủng kháng với toàn bộ kháng sinh được thử nghiệm. Kháng tetracycline và ciprofloxacin đều ở mức 79%; trong khi đó kháng ertapenem đạt 53%. Kết quả MALDI-TOF MS ghi nhận 4 loài được định danh: Enterococcus faecalis, Enterococcus faecium, Kurthia gibsonii và Escherichia coli. Nghiên cứu bước đầu cung cấp dữ liệu về sự xuất hiện của các vi khuẩn MDR trong nem chua đường phố tại Hà Nội đồng thời cho thấy sự cần thiết tiến hành đánh giá KKS trong thực phẩm lên men truyền thống theo định hướng một sức khỏe - one health.</em></p> Nguyễn Thị Thu Hiền, Trần Đỗ Quang Dương, Nguyễn Vĩ Đăng, Nguyễn Văn Phượng, Phạm Hoàng Nam Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1309 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH Ở VI KHUẨN PHÂN LẬP TỪ MỘT SỐ MẪU TÀO PHỚ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1310 <p><em>Tào phớ là thực phẩm đường phố phổ biến tại Hà Nội, được tiêu thụ trực tiếp không qua gia nhiệt lại, qua đó có thể tạo nguy cơ phơi nhiễm trực tiếp với vi khuẩn kháng kháng sinh (KKS). Trong nghiên cứu này, tỉ lệ vi khuẩn KKS và kiểu hình đa kháng thuốc (MDR) của 20 chủng vi khuẩn phân lập từ 5 mẫu tào phớ thu tại 5 địa điểm nội thành Hà Nội trong giai đoạn tháng 1-4/2026 đã được đánh giá. Kết quả cho thấy cả 5 mẫu được khảo sát đều vượt giới hạn QCVN 8-3:2012/BYT về ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm từ 2,6 đến 5,2 lần và tỉ lệ vi khuẩn KKS trung bình đạt 5,8%. Hai muơi chủng KKS với hình thái khác nhau đã được phân lập và đánh giá tính nhạy cảm kháng sinh bằng phương pháp Kirby- Bauer với 6 kháng sinh thuộc 5 nhóm cho kết quả 17/20 chủng MDR và một chủng kháng với toàn bộ 6 kháng sinh thử nghiệm.. Tỉ lệ kháng tetracycline và ciprofloxacin lần lượt là 100% và 95%, kháng ertapenem chiếm 25%. Định danh MALDI-TOF MS cho kết quả các chủng MDR thuộc loài Enterobacter spp. (E. cloacae, E. hormaechei, E. roggenkampii), Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli và Comamonas aquatica. Kết quả bước đầu cung cấp dữ liệu về sự xuất hiện của các vi khuẩn MDR trong tào phố đường phố tại Hà Nội. Mặc dù quy mô mẫu còn hạn chế, các phát hiện này cho thấy cần thiết tăng cường kiểm soát vệ sinh trong sản xuất và kinh doanh tào phớ đường phố, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu giám sát KKS trong thực phẩm đường phố theo định hướng Một Sức khỏe - One Health.</em></p> Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Quang Trung, Phạm Minh Ngọc, Nguyễn Văn Phượng, Phạm Hoàng Nam Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1310 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÂY NHỘI (Bischofia javanica) ĐỊNH HƯỚNG TRONG KEM ĐÁNH RĂNG THẢO DƯỢC https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1311 <p><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết cây nhội (Bischofia javanica) và khả năng ứng dụng trong công thức kem đánh răng thảo dược. Cao chiết từ lá và rễ Nhội được thu nhận bằng ethyl acetate, methanol và ethanol, có hoặc không hỗ trợ siêu âm. Kết quả cho thấy cao chiết lá có hoạt tính kháng khuẩn cao hơn rễ trên 10 chủng vi khuẩn kiểm định, với đường kính vòng ức chế đạt 6,0-21,3 mm; mẫu lá chiết bằng ethyl acetate có hỗ trợ siêu âm cho hiệu quả mạnh nhất. Tuy nhiên, ethanol 80% có hỗ trợ siêu âm được lựa chọn để phát triển công thức do an toàn hơn và vẫn duy trì hoạt tính tốt. Kem đánh răng chứa 1,0-2,0% dịch chiết lá Nhội ức chế toàn bộ các chủng kiểm định, với vòng kháng khuẩn đạt 16-31 mm; hiệu quả nổi bật ghi nhận trên Escherichia coli, Enterococcus faecalis, Staphylococcus aureus kháng methicillin và Salmonella enterica. Công thức 1,0-2,0% đồng thời đạt trạng thái cảm quan ổn định, cho thấy tiềm năng ứng dụng lá Nhội trong phát triển sản phẩm chăm sóc răng miệng có nguồn gốc tự nhiên.</em></p> Nguyễn Thị Ngọc Anh, Tạ Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Phương Thảo, Vũ Kim Thoa, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hương, Trần Thị Nhung Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1311 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 SẢN XUẤT PEPTIDE ỨC CHẾ ANGIOTENSIN- CONVERTING ENZYME (ACE) VÀ CHỐNG OXY HÓA TỪ PHỤ PHẨM TÔM BẰNG LÊN MEN VI SINH CÓ ĐỊNH HƯỚNG: TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1312 <p><em>Peptide hoạt tính sinh học từ phụ phẩm thủy sản là nguồn hợp chất chức năng giàu tiềm năng, được tạo thành thông qua quá trình phân giải protein có kiểm soát. Sự phát triển của công nghệ lên men vi sinh có định hướng cho phép nâng cao hiệu suất thủy phân, kiểm soát quá trình tạo peptide và tối ưu hóa hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, hiệu quả thu hồi peptide và tính ổn định của hệ vi sinh vật vẫn là những thách thức đối với ứng dụng quy mô lớn. Bài báo tập trung tổng quan tiềm năng khai thác peptide hoạt tính sinh học từ phụ phẩm tôm, các cơ chế tác động và hướng tiếp cận lên men vi sinh có định hướng, trong đó tập trung ứng dụng tổ hợp chủng Bacillus subtilis và Lactobacillus plantarum trong sản xuất các peptide hoạt tính sinh học. Qua đó, bài báo làm rõ triển vọng ứng dụng công nghệ lên men vi sinh có định hướng để chuyển hóa phụ phẩm tôm thành các sản phẩm giá trị gia tăng, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững ngành thủy sản.</em></p> Nguyễn Ngọc Huyền, Bùi Thị Hải Hòa, Nguyễn Thị Hồng Hải Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1312 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA VÀ HOẠT TÍNH GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯ BIỂU MÔ GAN (HEPG2) CỦA CÁC CẶN CHIẾT VÀ PHÂN ĐOẠN GẦN SẠCH TỪ LOÀI Hypericum uralum BUCH.-HAM. EX D.DON https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1313 <p><em>Hypericum uralum Buch.-Ham. ex D.Don là loài thực vật giàu các hoạt chất có tiềm năng dược lý, song các nghiên cứu về hoạt tính chống oxy hóa và chống ung thư còn hạn chế. Trong nghiên cứu này, toàn cây H. uralum thu hái tại Sa Pa, Lào Cai được chiết bằng methanol và phân đoạn bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần để thu được các phần chiết n-hexan (HUH), dichloromethan (HUD), ethyl acetate (HUE) và nước (HUW). Từ phần chiết HUE tiếp tục phân lập được hai phân đoạn gần sạch HUEMB.1 và HUEMC.2. Thử nghiệm sinh học cho thấy tất cả các phân đoạn đều có khả năng khử gốc tự do DPPH với giá trị EC<sub>50</sub> từ 2,37 đến 49,76 µg/mL. Đáng chú ý, phân đoạn HUEMC.2 thể hiện hoạt tính vượt trội nhất ở cả hai mô hình thử nghiệm: chống oxy hóa với EC<sub>50</sub> = 2,37 ± 0,08 µg/ mL) và gây độc tế bào HepG2 (sử dụng kĩ thuật SRB) với IC<sub>50</sub> đạt 20,05 ± 0,62 µg/mL. Kết quả gợi ý rằng các hợp chất có hoạt tính sinh học của H. uralum tập trung chủ yếu trong phần chiết ethyl acetate, đặc biệt ở phân đoạn HUEMC.2, tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về phân lập, xác định cấu trúc và đánh giá tiềm năng ứng dụng chống oxy hóa, chống ung thư của loài này.</em></p> Đặng Bảo Sơn, Vũ Thị Trang, Hoàng Thị Thuyết, Phạm Thị Lan Anh, Phạm Diễm Quỳnh, Bùi Long Vũ, Hồ Ngọc Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1313 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 KHAI THÁC PHỤ PHẨM THỰC VẬT GIÀU ANTHOCYANIN KẾT HỢP TINH BỘT KHÁNG TÁI CẤU TRÚC TỪ KHOAI TÂY NHẰM PHÁT TRIỂN HỆ NGUYÊN LIỆU CHO THỰC PHẨM VÀ MỸ PHẨM https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1314 <p><em>Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và thay thế màu tổng hợp bằng màu tự nhiên là xu hướng tất yếu trong ngành thực phẩm và mỹ phẩm. Nghiên cứu này thực hiện chiết xuất anthocyanin từ các nguồn phụ phẩm bao gồm vỏ thanh long, vỏ khoai lang tím và cánh/đài hoa đậu biếc phế phẩm bằng phương pháp hỗ trợ siêu âm, sau đó cố định lên nền ma trận tinh bột kháng tái cấu trúc từ khoai tây (RS type 3) bằng kỹ thuật đồng hóa áp suất cao kết hợp sấy thăng hoa. Hiệu suất bao gói đạt từ 78,5% đến 86,2% với hàm lượng anthocyanin tổng số trong phức hợp được định lượng rõ ràng. Hệ phức hợp giữ được độ bền sinh học cao với hơn 82,4% hàm lượng hoạt chất được bảo vệ nguyên vẹn trước tác động của nhiệt độ (80<sup>o</sup>C trong 3 giờ) và bức xạ UV-C. Đồng thời, hệ nguyên liệu này thể hiện năng lực định hình cấu trúc xuất sắc khi ứng dụng vào hai dòng sản phẩm mô hình là thạch bổ sung chất xơ và gel dưỡng da, mở ra tiềm năng ứng dụng kép linh hoạt.</em></p> Đỗ Phương Khanh, Nguyễn Thị Hương, Phạm Văn Vũ, Trịnh Minh Khuê, Đinh Thị Quỳnh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1314 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP XYLANASE TRONG ĐIỀU KIỆN pH THẤP CỦA CHỦNG NẤM CHỊU ACID Talaromyces sp. ASM-115 https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1315 <p><em>Xylanase là enzyme có tiềm năng ứng dụng lớn trong công nghiệp giấy, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng sinh tổng hợp xylanase của chủng nấm chịu acid Talaromyces sp. ASM-115 trong điều kiện pH thấp. Chủng được nuôi cấy trên các nguồn cơ chất khác nhau gồm glucose, xylose, xylan, avicel, cám mì và cám gạo ở pH 2,5 và pH 5. Hoạt tính enzyme thô được xác định bằng phương pháp DNS cho thấy môi trường chứa xylan ở pH 2,5 cho hoạt tính xylanase cao nhất, đạt khoảng 2,02 U/mL sau 7 ngày nuôi cấy. Các mẫu nuôi trên cám mì và cám gạo ở pH thấp cũng ghi nhận hoạt tính enzyme tương đối cao. Phân tích SDS-PAGE và zymogram cho thấy chỉ một số băng protein thể hiện hoạt tính xylanase thủy phân xylan mặc dù có nhiều protein ngoại bào được tiết ra. Enzyme sau quá trình cô đặc và trao đổi đệm duy trì 73% hoạt tính sau xử lý ở 70°C trong 60 phút. Quá trình làm sạch bằng sắc ký lọc gel thu được 20 phân đoạn, trong đó phân đoạn F4 thể hiện tính bền nhiệt cao nhất (54%). Trong phạm vi hai mức pH khảo sát, xylanase thu nhận khi nuôi cấy ở pH 2,5 thể hiện độ bền nhiệt cao hơn so với pH 5, cho thấy nuôi cấy ở pH thấp là điều kiện tiềm năng để thu nhận xylanase bền nhiệt từ Talaromyces sp. ASM-115.</em></p> Nguyễn Bảo Châu, Anin Keosavanh, Trần Trà My, Vũ Nguyên Thành, Nguyễn Thanh Thủy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1315 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG PHỤC HỒI COLLAGEN CỦA DỊCH CHIẾT CÁM GẠO TRÊN NGUYÊN BÀO SỢI DA NGƯỜI BỊ TỔN THƯƠNG DO TIA UVB https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1316 <p><em>Nghiên cứu này đánh giá tác dụng chống lão hóa da của dịch chiết cám gạo thông qua khả năng thúc đẩy tổng hợp collagen type I và bảo vệ nguyên bào sợi da khỏi tổn thương do tia UVB. Dịch chiết cám gạo được chuẩn bị bằng phương pháp ngâm chiết với ethanol 70%. Tính an toàn của dịch chiết cám gạo được đánh giá trên hai dòng tế bào da là keratinocyte (HaCaT) và nguyên bào sợi da người (HDF) bằng phương pháp MTT. Kết quả cho thấy dịch chiết cám gạo không gây độc tính trên cả hai dòng tế bào ở nồng độ ≤ 100 µg/ mL. Trên mô hình nguyên bào sợi da người (HDF) được nuôi trong môi trường điều hòa từ tế bào HaCaT sau chiếu UVB (40 mJ/cm²), dịch chiết cám gạo phục hồi đáng kể nồng độ collagen type I bị suy giảm theo cách phụ thuộc vào nồng độ. Tại nồng độ 100 µg/mL, dịch chiết cám gạo đưa hàm lượng collagen trở về gần mức của nhóm đối chứng không chiếu UVB (p &lt; 0,001). Phân tích cơ chế phân tử bằng kỹ thuật RT-qPCR cho thấy dịch chiết cám gạo làm tăng đáng kể biểu hiện mRNA của COL1A1 và COL1A2, đồng thời giảm rõ rệt biểu hiện MMP-1 so với nhóm chỉ chiếu UVB. Những kết quả này chứng minh rằng dịch chiết cám gạo có khả năng kích thích tổng hợp collagen type I và ức chế sự phân hủy collagen, từ đó góp phần cải thiện độ đàn hồi, độ săn chắc của da và làm chậm quá trình lão hóa. Nghiên cứu khẳng định tiềm năng ứng dụng cao của cám gạo - một phụ phẩm nông nghiệp dồi dào tại Việt Nam - trong phát triển các sản phẩm mỹ phẩm chống lão hóa và chống nhăn an toàn, hiệu quả.</em></p> Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thành Chung, Đỗ Phương Khanh, Nguyễn Thị Huế, Tạ Thị Thu Thủy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1316 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP LỌC RỬA TINH TRÙNG ĐẾN PHÔI CỦA BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI QUẢNG NINH https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1317 <p><em>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của kỹ thuật chuẩn bị tinh trùng theo phương pháp vi dòng chảy sử dụng chip ZymōtTM Multi 850 µl, so sánh với kỹ thuật truyền thống theo phương pháp thang nồng độ, được thực hiện tại bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh. Với số lượng chu kỳ ICSI là 122 và tổng số noãn nghiên cứu là 1664, kết quả thành công tạo hợp tử bình thường cao hơn ở nhóm microfluidic, 75,59% so với 72,63% ở nhóm chứng. Kết quả sự tạo phôi nang ngày 5 cho thấy, nhóm microfluidic đạt 55,35% cao hơn so với nhóm chứng 41,45%; Tỷ lệ tạo phôi nang tốt ở nhóm microfluidic và nhóm chứng lần lượt là 15,97% và 11,9%. Theo mô hình hồi quy logistic, nhóm microfluidic làm tăng khả năng tạo phôi nang lên 1,75 lần so với nhóm chứng sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu. Đánh giá chất lượng phôi bằng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới cho thấy, so với nhóm chứng, nhóm microfluidic có kết quả cao hơn về tỷ lệ phôi chính bội (43,72% và 41,88%), phôi lệch bội (37,16% và 35,04%), p &gt; 0,05; trong khi tỷ lệ phôi khảm là 19,13% ở nhóm microfluidic và 20,51% ở nhóm chứng. Kết quả thu được cho thấy, chuẩn bị tinh trùng bằng phương pháp vi dòng chảy khắc phục được nhược điểm của các phương pháp truyền thống và đem lại những lợi ích trong điều trị hỗ trợ sinh sản.</em></p> Nguyễn Thị Uyên, Đào Thị Hồng Vân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1317 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 PHYTOESTROGEN - CƠ CHẾ TÁC DỤNG VÀ VAI TRÒ SINH HỌC ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1318 <p><em>Phytoestrogen là nhóm hợp chất có nguồn gốc thực vật với khả năng bắt chước hoặc điều biến hoạt động của estrogen nội sinh thông qua tương tác với các thụ thể estrogen. Trong bối cảnh gia tăng các bệnh mạn tính liên quan đến nội tiết và chuyển hóa, phytoestrogen đã thu hút sự quan tâm đáng kể nhờ tiềm năng ứng dụng trong dinh dưỡng và y học dự phòng. Bài tổng quan này nhằm hệ thống hóa các nhóm phytoestrogen chính, làm rõ quá trình hấp thu, chuyển hóa và sinh khả dụng, đồng thời phân tích các cơ chế tác động sinh học và ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe con người. Kết quả cho thấy tác động của phytoestrogen mang tính hai mặt, phụ thuộc vào liều lượng, trạng thái sinh lý và hệ vi sinh vật đường ruột của từng cá thể. Những phát hiện này nhấn mạnh nhu cầu nghiên cứu sâu hơn theo hướng cá thể hóa dinh dưỡng và thiết kế thử nghiệm lâm sàng chuẩn hóa.</em></p> Vũ Thị Hồng Chính, Vũ Kim Thoa Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1318 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 SINH HỌC TỔNG HỢP TRÊN HỆ KHÔNG TẾ BÀO: NỀN TẢNG CHO KỸ THUẬT SINH HỌC THẾ HỆ MỚI https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1319 <p><em>Sinh học tổng hợp không tế bào là công nghệ thực hiện các phản ứng sinh học trong môi trường in vitro mà không cần tế bào sống. Nhờ sử dụng các thành phần sinh học trong hệ phản ứng mở, CFSB cho phép kiểm soát trực tiếp điều kiện phản ứng, rút ngắn chu trình thiết kế-xây dựng-kiểm tra và nâng cao hiệu quả tổng hợp protein, kể cả các protein khó biểu hiện hoặc độc đối với tế bào. Công nghệ này được ứng dụng trong tổng hợp protein không tế bào (Cell-Free Protein Synthesis - CFPS), DNA origami, enzyme cascade và tổng hợp vật liệu sinh học, với các ứng dụng như sản xuất bacteriocin, thiết bị nano sinh học và vật liệu phân hủy sinh học. Tuy nhiên, CFSB vẫn còn những thách thức phải giải quyết như chi phí cao, độ ổn định enzyme thấp, biến động giữa các mẻ phản ứng và khó mở rộng quy mô công nghiệp. Bên cạnh đó, hiệu suất dịch mã và khả năng tích hợp amino acid phi tự nhiên vẫn cần được cải thiện.</em></p> Bùi Thị Hải Hòa, Trịnh Thị Thu Hằng, Đinh Thị Thu Lê Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1319 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 VAI TRÒ CỦA PHỔ ÁNH SÁNG ĐỎ VÀ XANH ĐỐI VỚI SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CON GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1320 <p><em>Ánh sáng đỏ và xanh có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, một trong những yếu tố then chốt quyết định năng suất và chất lượng nông sản. Kết quả tổng hợp cho thấy ánh sáng đỏ đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy quang hợp, gia tăng sinh khối rễ và chồi thông qua sự điều hòa của hệ sắc tố phytochrome. Bên cạnh đó, ánh sáng xanh giúp điều tiết hình thái cây con theo hướng nhỏ gọn, tăng cường tích lũy các chất chuyển hóa thứ cấp và nâng cao khả năng chống chịu stress. Tuy nhiên, việc sử dụng đơn độc hoặc không cân đối các phổ ánh sáng này có thể dẫn đến những bất lợi về hình thái như cây cao vống hoặc quá lùn, vốn có thể không duy trì được ưu thế khi chuyển ra môi trường thực địa. Tại Việt Nam, các thực nghiệm trên hoa, rau và cây dược liệu khẳng định rằng việc kết hợp tỷ lệ đỏ: xanh tối ưu là giải pháp hiệu quả để cải thiện chỉ tiêu sinh lý và năng suất thực thu. Nghiên cứu kết luận rằng tích hợp công nghệ LED tùy chỉnh quang phổ, phối hợp linh hoạt với các bước sóng khác và áp dụng nông nghiệp thông minh là hướng đi tất yếu để tối ưu hóa chất lượng cây giống và đảm bảo an ninh lương thực.</em></p> Đinh Thị Thu Lê, Vũ Thị Hằng, Bùi Thị Hải Hòa, Vũ Kim Thoa Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1320 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH XỬ LÝ NHANH RƠM RẠ TẠI ĐỒNG RUỘNG ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA TẠI XÃ KHÁNH THÀNH, TỈNH NINH BÌNH https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1321 <p><em>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh trong xử lý rơm rạ tại chỗ sau thu hoạch lúa tại xã Khánh Thành, tỉnh Ninh Bình nhằm hạn chế đốt rơm rạ, giảm thất thoát nguồn hữu cơ và cải thiện năng suất lúa. Mô hình được triển khai trên ba thửa ruộng, gồm một thửa trồng giống Nếp Hương và hai thửa trồng giống Đài Thơm, với ba công thức: CT1 không sử dụng chế phẩm vi sinh, CT2 sử dụng chế phẩm vi sinh thương mại và CT3 sử dụng chế phẩm vi sinh đa chức năng HDMIX. Do vật liệu nghiên cứu gồm hai giống lúa có đặc tính di truyền khác nhau, số liệu được trình bày và phân tích theo từng thửa ruộng/giống, không gộp ba thửa như các lần lặp thống kê đồng nhất của cùng một thí nghiệm. Kết quả cho thấy CT2 làm tăng năng suất thực thu 0,62-0,77 tấn/ha, trong khi CT3 làm tăng 1,13-1,19 tấn/ha so với đối chứng. Kiểm định ANOVA theo từng thửa/giống cho thấy năng suất thực thu khác biệt có ý nghĩa giữa các công thức (p &lt; 0,05). Chế phẩm HDMIX đồng thời cải thiện các chỉ tiêu dinh dưỡng đất và mật độ nhóm vi sinh vật có ích, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế 6,682-8,012 triệu đồng/ha so với đối chứng. Kết quả gợi ý khả năng ứng dụng xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh như một giải pháp kỹ thuật phù hợp cho canh tác lúa bền vững ở quy mô địa phương.</em></p> Lương Hữu Thành, Đào Thị Hồng Vân, Nguyễn Kiều Băng Tâm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1321 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 ỨNG DỤNG MŨI ĐIỆN TỬ (E-NOSE) VÀ LƯỠI ĐIỆN TỬ (E-TONGUE) TRONG PHÁT HIỆN PHA TẠP NƯỚC MẮM TẠI VIỆT NAM https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1322 <p><em>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kết hợp hệ thống mũi điện tử (E-nose) và lưỡi điện tử (E-tongue) bằng kỹ thuật hợp nhất dữ liệu cấp độ đặc trưng (Feature-level Data Fusion) để phân biệt và phát hiện pha tạp nước mắm. Nhằm khắc phục nguy cơ quá khớp (overfitting) từ tập 48 mẫu gốc, kỹ thuật tăng cường dữ liệu (Data Augmentation) bằng nhiễu Gauss trắng đã được áp dụng để mở rộng lên 240 mẫu, kết hợp tập kiểm chứng độc lập (External Validation) gồm 14 mẫu thị trường. Phân tích thành phần chính (PCA) cho thấy dữ liệu hợp nhất biểu diễn tốt nhất với tổng phương sai giải thích của PC1 và PC2 đạt 93,8%. Các mô hình phân loại đạt hiệu suất cao, trong đó mô hình Deep Neural Network (DNN) đạt độ chính xác 96,4% trên tập huấn luyện và 94,2% trên tập kiểm chứng độc lập với thời gian suy luận dưới 0,05 giây. Nghiên cứu cũng làm rõ cơ chế tương tác ion hóa trên bề mặt cảm biến MQ135 và năng lực nhận diện gián tiếp các acid amin phức tạp tạo hậu vị sâu của nước mắm truyền thống. Kết quả khẳng định hướng tiếp cận này có khả năng kiểm soát chất lượng nước mắm nhanh chóng, không phá hủy mẫu.</em></p> Đỗ Phương Khanh, Nguyễn Thành Chung, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Huế, Đặng Bảo Sơn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1322 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU TÁCH CHIẾT LIPID TỪ NHỘNG TẰM BẰNG PHƯƠNG PHÁP ENZYM https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1323 <p><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng quy trình tách chiết lipid từ nhộng tằm (Bombyx mori L.) bằng phương pháp thủy phân enzym. Hiệu quả của các phương pháp tách chiết bằng nước, dung dịch NaCl 1% và enzym được khảo sát, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ gồm nhiệt độ, tỷ lệ nguyên liệu/nước, tỷ lệ enzym và thời gian thủy phân đến hiệu suất thu hồi lipid. Kết quả cho thấy phương pháp sử dụng enzym cho hiệu suất tách chiết cao nhất, đạt 50,5% trong điều kiện khuấy gián đoạn. Các điều kiện thích hợp cho quá trình thủy phân gồm nhiệt độ 50°C, tỷ lệ nguyên liệu/nước 1:4, tỷ lệ enzym lipase 1,5% và thời gian thủy phân 90 phút. Trong điều kiện này, hiệu suất thu hồi lipid đạt xấp xỉ 79,2%. Dầu nhộng tằm thu được có màu vàng rơm, trong suốt, mùi thơm đặc trưng. Các chỉ số chất lượng của dầu lần lượt là peroxide 1,57 meq/kg, acid 4,67 mg KOH/g dầu và iod 116,8 g I₂/100 g dầu. Kết quả cho thấy phương pháp thủy phân enzym là hướng tiếp cận hiệu quả, thân thiện môi trường và có tiềm năng ứng dụng trong khai thác dầu nhộng tằm phục vụ công nghiệp thực phẩm và thức ăn chăn nuôi.</em></p> Lê Thanh Hải Hà, Vũ Thị Hồng Chính, Phan Ngọc Nhi, Nguyễn Thị Thanh Trà, Vũ Kim Thoa Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội https://jshou.edu.vn/houjs/article/view/1323 Wed, 12 Aug 2026 00:00:00 +0700