LIÊN KẾT "NHÀ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP" TRONG ĐÀO TẠO LUẬT KỶ NGUYÊN SỐ: GIẢI PHÁP THU HẸP KHOẢNG CÁCH GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Authors

  • Nguyễn Ngọc Anh Đào

DOI:

https://doi.org/10.59266/houjs.2025.1053

Keywords:

đào tạo luật, doanh nghiệp, kỷ nguyên số, liên kết, thực tiễn

Abstract

Kỷ nguyên số đặt ra những yêu cầu mới và khắt khe hơn đối với năng lực của cử nhân luật, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nền tảng lý luận vững chắc và kỹ năng thực hành hiện đại. Bài báo này tập trung phân tích vai trò chiến lược của mô hình liên kết “Nhà trường - Doanh nghiệp” như một giải pháp đột phá để thu hẹp khoảng cách cố hữu giữa lý luận và thực tiễn trong đào tạo luật tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, chủ yếu là phân tích tài liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu một số chuyên gia, bài báo hệ thống hóa cơ sở lý luận về học tập qua trải nghiệm và các mô hình liên kết thành công trên thế giới. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù đã có những nhận thức và nỗ lực ban đầu, hoạt động liên kết tại Việt Nam vẫn còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu và chưa tương xứng với tiềm năng. Các rào cản chính bao gồm sự khác biệt về mục tiêu, thiếu cơ chế phối hợp bền vững và sự chưa sẵn sàng về mặt công nghệ. Bài báo thảo luận sâu về các hình thức liên kết hiệu quả trong kỷ nguyên số, từ việc đồng thiết kế chương trình đào tạo, xây dựng các học phần thực hành dựa trên công nghệ (Legal Tech), đến việc triển khai các dự án “phòng khám pháp luật” ảo và các chương trình thực tập có cấu trúc. Từ đó, các kiến nghị mang tính hệ thống được đề xuất nhằm xây dựng một cơ chế hợp tác thực chất, bền vững giữa các cơ sở đào tạo luật và cộng đồng doanh nghiệp, góp phần đào tạo ra một thế hệ luật sư mới, đáp ứng toàn diện yêu cầu của thị trường lao động số.

References

[1]. Evans, A., Cody, A., Copeland, A., Giddings, J., Joy, P., Noone, M. A., & Rice, S. (2017). Australian Clinical Legal Education: Designing and Operating a Best Practice Clinical Program in an Australian Law School. ANU Press.

[2]. Gardner, P., Gross, L., & Steglitz, I. (2015). Unpacking the Co-op Experience: A Study of the T-Shaped Professional. Michigan State University, Collegiate Employment Research Institute.

[3]. Giddings, J. (2013). Promoting justice through clinical legal education. Justice Press.

[4]. Kolb, D. A. (1984). Experiential learning: Experience as the source of learning and development. Prentice-Hall.

[5]. Nguyễn Thị Mai. (2023). Đánh giá hiệu quả hoạt động diễn án trong đào tạo cử nhân luật tại Việt Nam. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, (15), 45-52.

[6]. Nguyễn Thị Triển. (2021). Kỹ năng áp dụng pháp luật của sinh viên ngành luật ở doanh nghiệp hiện nay. Tạp chí Công thương, (12), 56-61.

[7]. Patrick, C. J., Peach, D., Pocknee, C., Webb, F., Fletcher, M., & Pretto, G. (2008). The WIL [Work Integrated Learning] report: A national scoping study. Queensland University of Technology.

[8]. Phan Trung Hiền, Nguyễn Thành Phương. (2022). Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên luật trong giai đoạn hiện nay. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (9), 80 -87.

[9]. Spady, W. G. (1994). Outcome-based education: Critical issues and answers. American Association of School Administrators.

[10]. Susskind, R. (2017). Tomorrow’s lawyers: An introduction to your future (2nd ed.). Oxford University Press.

[11]. Webb, J. (2019). Information Technology and the Future of Legal Education: A Provost’s Perspective. Penn State Law Review, 123(3), 667-690.

Loading...