ĐỔI MỚI HỖ TRỢ HỌC TẬP CHO NGƯỜI HỌC TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DIỆN Ở GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Các tác giả

  • Thái Thanh Tùng, Lê Quốc Thắng

DOI:

https://doi.org/10.59266/houjs.2026.1213

Từ khóa:

chuyển đổi số, giáo dục đại học, hỗ trợ học tập, kỹ năng số, người học

Tóm tắt

Chuyển đổi số đang làm thay đổi môi trường học tập và cách hỗ trợ người học trong giáo dục đại học. Vì vậy, hỗ trợ học tập không nên chỉ dừng ở thủ tục hành chính mà cần được tổ chức như một hệ sinh thái tích hợp, gồm hạ tầng số, học liệu số, tư vấn học tập, phát triển năng lực số, hỗ trợ tâm lý và kết nối nghề nghiệp. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích bối cảnh chính sách và đề xuất định hướng đổi mới hỗ trợ học tập trong giáo dục đại học. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, tổng quan, so sánh và tổng hợp trên cơ sở văn bản chính sách của Việt Nam, khung tham chiếu quốc tế và một số công trình tiêu biểu. Kết quả cho thấy đổi mới hỗ trợ học tập cần theo hướng tích hợp, chủ động, cá thể hóa, dựa trên dữ liệu, đồng thời bảo đảm đạo đức số, công bằng số và sự tham gia của người học. Từ đó, bài viết kiến nghị phát triển mô hình hỗ trợ học tập số liên thông, lấy năng lực số và năng lực tự học làm trung tâm.

Tài liệu tham khảo

An, B. T., Nguyễn, T. L. N., & Trịnh, T. P. T. (2024). Đề xuất khung năng lực số cho sinh viên sư phạm tại Việt Nam. Tạp chí Giáo dục, 24(22), 1-6.

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2025 quy định Khung năng lực số cho người học. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=212648&pageid=27160

Đặng, Ứ. V. (2021). Đổi mới giáo dục đại học: Từ ý tưởng đến thực tiễn. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Jin, S.-H., Im, K., Yoo, M., Roll, I., & Seo, K. (2023). Supporting students’ self- regulated learning in online learning using artificial intelligence applications. International Journal of Educational Technology in Higher Education, 20, Article 37. https://doi.org/10.1186/ s41239-023-00406-5

Hoàng, T. N. (2024). Chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo.

Nguyễn, A. T. (2022). Đánh giá về thực trạng và quy luật tự chủ đại học tại Việt Nam. Tạp Chí Giáo dục, 22(3), 49-53. https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/view/342

Nguyễn, T. M. L. (2016). Quản lý giáo dục đại học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

OECD. (2023). OECD digital education outlook 2023: Towards an effective digital education ecosystem. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/ c74f03de-en

Piaget, J. (1970). Science of education and the psychology of the child. Orion Press.

Siemens, G. (2005). Connectivism: A learning theory for the digital age. International Journal of Instructional Technology and Distance Learning, 2(1). http://www.elearnspace.org/Articles/connectivism.htm

Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”. https://vanban.chinhphu.vn

Trần, K. Đ. (2014). Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam.

UNESCO. (2023). Global education monitoring report 2023: Technology in education: A tool on whose terms? UNESCO Publishing. https://www. unesco.org/gem-report

Vuorikari, R., Kluzer, S., & Punie, Y. (2022). DigComp 2.2: The digital competence framework for citizens. Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2760/115376

Vygotsky, L. S. (1978). Mind in society: The development of higher psychological processes. Harvard University Press.

Zimmerman, B. J. (2002). Becoming a self- regulated learner: An overview. Theory Into Practice, 41(2), 64-70. https://doi.org/10.1207/s15430421tip4102_2.

Tải xuống

Loading...